Hiển thị các bài đăng có nhãn cong nghe moi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn cong nghe moi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 16 tháng 1, 2013

Các nhà nghiên cứu phát minh thành công thiết bị nhỏ gọn có thể cung cấp hình ảnh 3D của thực quản

Screen Shot 2013-01-16 at 1.43.36 AM.jpg

Có lẽ rất nhiều người trong số chúng ta đôi lúc đã gặp phải những triệu chứng khá khó chịu như ợ nóng, cảm thấy đau, nhứt ở cổ họng hay ngực do tình trạng trào ngược axit từ dạ dày vào thực quản. Nếu những điều đó chỉ xảy ra đôi lần thì sẽ không có gì là nghiêm trọng, nhưng nếu nó diễn ra nhiều lần thì dường như bạn đang gặp phải một chứng bệnh gọi là Barrett thực quản* (giải thích cuối bài). Căn bệnh này thường có những dấu hiệu rất khó nhận biết, vì vậy đa phần bệnh nhân đều tỏ vẻ chủ quan và không có những biện pháp ngăn ngừa kịp thời, dẫn đến hậu quả là ung thư thực quản.

Để phát hiện sớm tình trạng bệnh trên, các nhà nghiên cứu tại bệnh viện Massachusetts, thuộc thành phố Boston, Mỹ, đã phát minh ra một thiết bị có hình dạng nhỏ như viên thuốc, có chức năng cung cấp chi tiết những hình ảnh của thực quản dưới định dạng 3D. Đầu tiên nhắc sơ qua về cấu tạo của nó, thiết bị này có phần thân trong suốt, ở phía đuôi có nối với một sợi dây dài - nhằm truyền dữ liệu từ camera ở phía đỉnh đến với máy tính phân tích của bác sĩ. Điểm đặc biệt của nó đó chính là kích thước rất nhỏ, cùng với đó là phần đầu có hình dạng tròn cong như viên thuốc con nhộng chúng ta hay uống, vì vậy bạn sẽ không cảm thấy khó chịu khi các bác sĩ đưa nó vào bên trong thực quản.

Về cách thức làm việc, thiết bị này sẽ hoạt động thông qua kỹ thuật OFDI - một kỹ thuật tương tự như sóng siêu âm, nhưng ở đây nó lại sử dụng ánh sáng hồng ngoại. Theo đó, khi "viên thuốc" này tiến sâu vào thực quản, các nhà nghiên cứu sẽ bắt đầu tạo ra một chùm tia sáng, sau đó tách nó thành hai tia sáng riêng biệt: một tia (được gọi là tia tham chiếu) sẽ được gởi đến bộ phận dò tìm, tia còn lại sẽ gửi đến sợi dây gắn bên trong thiết bị, có nhiệm vụ phát hiện các mô bệnh, mô bất thường.

Bên trong thực quản, chùm tia sáng này sẽ tập trung vào một điểm có đường kính bằng sợi tóc của chúng ta, sau đó nó sẽ bắt đầu quay quanh trục với tần số 20 lần/giây. Khi hoàn tất quá trình trên, tia sáng đó sẽ được gởi ngược trở lại bộ phận dò tìm - nhằm so sánh trực tiếp với tia tham chiếu. Sự khác biệt giữa hai tia có thể sẽ được sử dụng để tái tạo lại hình ảnh mặt cắt ngang của thực quản dưới kính hiển vị. Bằng cách xếp chồng các mặt cắt lên nhau, những nhà nghiên cứu có thể tạo ra một hình ảnh ba chiều của thực quản.

Bằng cách đó, thiết bị này sẽ cung cấp cho bác sĩ những hình ảnh chi tiết nhất về bề mặt của thực quản, cũng như các lớp mô bất thường nằm bên trong có độ sâu khoảng 10 micron - điều kiện cần và đủ để có thể phát hiện kịp thời những dấu hiệu của ung thư thực quản.

Trên thực tế, hiện nay hầu như bệnh viện nào cũng có những dụng cụ cần thiết để kiểm tra bệnh Barrett thực quản trên. Cụ thể, khi tiến hành khám bệnh, các bác sĩ sẽ đưa một chiếc camera dài, cơ động, vào sâu bên trong thực quản của cơ thể con người, sau đó họ sẽ dò tìm những mô bất thường (mô bệnh), dùng dao lade cắt bỏ và bắt đầu mang đi tiến hành xét nghiệm. Tuy nhiên, quá trình này lại tốn quá nhiều thời gian, tiền bạc cũng như công sức của cả bác sĩ lẫn bệnh nhân, đó là chưa kể đến cảm giác đau đớn từ vết cắt.

Phát minh này đã được đăng trên tạp chí Nature Medicine.

*Bệnh Barrett thực quản: là tình trạng biến đổi biểu mô vảy bình thường ở vị trí xa thực quản thành biểu mô trụ . Đây là một biến chứng thường gặp của bệnh lý trào ngược dạ dày - thực quản. Barrett thực quản có rất nhiều nguy cơ trở thành ung thư thực quản nếu không phát hiện kịp thời.

Thứ Năm, 13 tháng 12, 2012

Học viện công nghệ California phát triển giải pháp giúp tập trung ánh sáng thành điểm siêu nhỏ

Choo-CVRMaterial-PR-NEWS-WEB_0-1.jpg

Các kĩ sư tại Học viện công nghệ California (Caltech) mới đây đã tạo ra một thiết bị giúp tập trung ánh sáng lại thành một điểm nhỏ chỉ vài nano mét. Từ trước đến nay, ánh sáng chưa bao giờ được hội tụ ở mức nhỏ như thế này, và nhờ đó mà công nghệ của Caltech hứa hẹn sẽ mang lại những bước tiến trong lĩnh vực điện toán, truyền thông và hình ảnh. Ánh sáng có độ tập trung cao sẽ giúp tăng băng thông nên người ta có thể gửi nhiều dữ liệu hơn thông qua các sợi quang. Bên cạnh đó, việc kiểm soát được ánh sáng như thế sẽ giúp các thiết bị quang học trở nên nhỏ gọn hơn, đồng thời tiêu tốn ít năng lượng hơn trong quá trình hoạt động.

Những nhà nghiên cứu ở Caltech giải thích rằng một khi ánh sáng tập trung lại một điểm nhỏ hơn bước sóng (trong trường hợp của áng sáng khả kiến là vài trăm nanomet), chúng ta sẽ gặp hiện tượng gọi là "giới hạn nhiễu xạ". Tại điểm đó, người ta sẽ không thể làm cho ánh sáng tập trung hơn nữa. Tuy nhiên, Caltech đã xây dựng nên một thiết bị định hướng ánh sáng mới có thể vượt qua giới hạn nói trên. Sản phẩm này làm từ Silicon dioxide (SiO2) vô định hình, gần giống với kính mà ta hay sử dụng, và được bao bọc trong một lớp vàng mỏng. Nó có hình dáng của một chiếc hộp chữ nhật nhỏ với chiều dài dưới 2 micromet và được đặt ở các điểm truyền tín hiệu.

Choo-Fig4a-NEWS-WEB.jpg
Cấu tạo của thiết bị định hướng áng sáng

Khi ánh sáng được gửi qua thiết bị, các photon sẽ tương tác với electron tại điểm tiếp xúc giữa vàng và Silicon dioxide. Các eletron sẽ dao động, và sự dao động này sẽ được lan truyền dọc theo thiết bị dưới dạng sóng (giống như cách mà âm thanh được truyền đi trong không khí). Vì dao động của electron được ghép chung với ánh sáng nên chúng mang theo cùng thông tin và thuộc tính. Chúng ta có thể xem là ánh sáng đang ủy quyền cho dao động của electron để nó thực hiện nhiệm vụ của mình.

Thay vì chỉ thực hiện việc tập trung ánh sáng, vốn là không thể vì "giới hạn nhiễu xạ", thiết bị của Caltech sẽ tập trung các dao động electron để tạo thành những hạt lượng tử gọi là surface plasmon polariton (SPP - tạm dịch là polariton nguyên sinh bề mặt). Các SPP sẽ di chuyển dọc theo ống định hướng và được gom lại khi đến nơi, và khi đó việc truyền dữ liệu thành công. Việc định hướng còn có sự tham gia của thiết kế và kiểu dáng độc đáo xuất hiện trên thiết bị. Một vị giáo sư trưởng cho biết thêm rằng nếu tập trung ánh sáng thành một điểm lớn hơn, khoảng 14 đến 80 nanomet, hiệu suất của việc truyền dữ liệu sẽ tăng 70%.

Nhóm phát triển cho biết thiết bị định hướng của họ được xây dựng dựa trên chip bán dẫn với kĩ thuật sản xuất nano tiêu chuẩn, nhờ vậy mà nó có thể được tích hợp dễ dàng với những công nghệ hiện nay. Về mặt ứng dụng, nó sẽ giúp tạo ra các thiết bị hình ảnh dùng trong ngành sinh học với độ phân giải cao. Bên cạnh đó, công nghệ này cũng có thể dùng để tăng dung lượng ổ cứng lên nếu áp dụng đầu đọc laser với độ tập trung cao (tức đầu đọc có khả năng nhận biết các ô từ trường kích thước bé hơn hiện tại nên tăng được mật độ lưu trữ lên tối đa 50TB/inch vuông). Không thể không kể đến việc sử dụng ánh sáng tập trung cao để truyền dữ liệu đi xa hiệu quả hơn.

Nói về bước kế tiếp trong dự án, các nhà nghiên cứu tiết lộ họ sẽ tối ưu hóa thiết kế và bắt đầu xây dựng những thiết bị, cảm biến hình ảnh để dùng kèm với bộ định hướng nói trên. Khi đã hoàn tất, giải pháp của Caltech có thể áp dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau.

Chủ Nhật, 9 tháng 12, 2012

Graphen sẽ là vật liệu “vua” của thế kỷ 21

Sau khi hai nhà khoa học của Đại học Manchester là Konstatin Novoselov và Andre Geim giành được giải Nobel Vật lý năm 2010 nhờ nghiên cứu về graphen, Bộ trưởng Tài chính Anh George Osborne đã quyết định sẽ đầu tư 50 triệu bảng cho chương trình nghiên cứu quốc gia về loại vật liệu này. Hiểu một cách đơn giản, graphen là một tấm phẳng than chì tách ra ở cỡ nguyên tử. Nó có thể được dùng để chế tạo mọi thứ, từ màn hình cảm ứng cho tới nhựa plastics, với giá thành rẻ hơn lại hiệu quả hơn.

Theo một nghiên cứu do James Hone (Đại học Columbia) tiến hành gần đây, graphen chính là vật liệu mạnh nhất mà con người từng đo được, cứng hơn thép kết cấu tới 200 lần. Đặc trưng này mở ra cơ hội để con người sản xuất các vật liệu tổng hợp, linh kiện điện tử từ graphen, dù giới nghiên cứu sẽ phải mất thêm ít nhất một thập kỷ nữa để tìm ra cách thương mại hóa graphen tối ưu nhất. Không chỉ nước Anh mà các đại gia công nghệ như IBM, Samsung và Nokia cũng đều đang rót tiền cho nghiên cứu về graphen.
2. Bay nhanh hơn tốc độ ánh sáng là khả thi?
Dù cho Einstein có khẳng định như đinh đóng cột cách đây một thế kỷ rằng không một vật thể chuyển động nào có thể vượt qua được vận tốc ánh sáng, nhưng năm nay, có vẻ như các nhà khoa học đã tìm thấy ngoại lệ. Nói cách khác, thuyết Tương đối vĩ đại của Einstein sẽ bị lung lay, trong một tuyên bố gây chấn động cả làng vật lý của các nhà khoa học tại CERN.

Tháng Chín vừa qua, nhóm này đã bắn ra một chùm neutrino từ Thụy Sĩ sang phòng thí nghiệm Gran Sasso ở Italia. Neutrino là những hạt siêu nhỏ với trọng lượng không đáng kể, gần như không tương tác với bất cứ vật thể nào khác và có thể đi xuyên qua mọi vật. Trong sự bất ngờ của CERN, máy đo cho thấy các hạt neutrino đã “đến đích” rất nhanh, hơn cả ánh sáng tới 60 phần tỷ giây.
Phản ứng chung của giới vật lý toàn cầu là hoài nghi và sửng sốt. Họ cho rằng thí nghiệm này sẽ mắc lỗi khi được tiến hành lại. Thậm chí, Giáo sư Jim Al-Khalili của Đại học Surrey đã tuyên bố trực tiếp trên TV rằng sẽ “ăn quần short” của mình nếu người ta chứng minh được hạt neutrino di chuyển nhanh hơn ánh sáng thật. Tuy nhiên, lần bắn chùm tia neutrino thứ hai hồi tháng trước vẫn cho ra kết quả tương tự.

Tổng quan công nghệ cắt bằng tia nước

1. Giới thiệu
Nước luôn luôn ở bên cạnh con người và nước với năng lượng của mình có thể làm mòn những núi đá để kiến tạo nên những kỳ quan hùng vĩ. Năng lượng nước đã được sử dụng trong nhiều thế kỷ qua, từ cơn sốt vàng ở California khoảng giữa năm 1800 hay trong những năm 1900 các mỏ than ở Nga đã được phá bởi những “quả bom” nước. Năm 1972 Mc Carthey đã trở thành người đầu tiên sử dụng năng lượng nước cao áp để cắt kim loại. Để thêm hiệu quả các hạt mài cũng được thêm vào dòng nước cắt.
Khoảng năm 1993, nhờ sự trợ giúp của máy tính, công nghệ này càng trở nên thông dụng, các đầu cắt CNC tia nước tỏ ra ưu thế vượt trội trong gia công bởi nó cắt được rất nhiều loại vật liệu khác nhau.
Hiện nay có rất nhiều xưởng kinh doanh có hiệu quả bằng việc bổ sung thiết bị cắt bằng tia nước kết hợp với các phương pháp gia công truyền thống khác.
Sau đây là những lý do khiến một xưởng gia công lựa chọn máy gia công bằng tia nước:
- Chương trình điều khiển thân thiện
- Dễ cài đặt máy
- Dễ thay thế công cụ
- Thời gian gia công nhanh và cho hầu hết các vật liệu
- Không tốn nhiều vật liệu (rất ít phoi)
- Gia công được các biên dạng phức tạp

Một số mẫu cắt tia nước
Một số mẫu cắt tia nước
2. Độ chính xác
Bạn sẽ cần một máy với độ chính xác cao để có thể gia công được những chi tiết có yêu cầu cấp chính xác cao , tuy nhiên những yếu tố khác cũng không kém phần quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng gia công.
Đầu tiên là đầu cắt, bộ phận này sẽ kiểm soát dòng nước áp lực cao, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến biên dạng sản phẩm. Một yếu tố không kém phần quan trọng nữa là phần mềm, để điều chỉnh tốc độ cắt.
Độ chính xác khi cắt tùy thuộc vào từng loại thiết bị và nhà sản xuất khác nhau, hầu hết sự thay đổi này đi kèm từ sự khác biệt trong hệ điều khiển và yếu tố ổn định (cứng vững) của máy. Những năm gần đây độ chính xác của máy cắt bằng tia nước đã được cải thiện đáng kể. Một máy sản xuất từ năm 1990 có khả năng đạt được độ chính xác từ 1,5 đến 0,25 mm; hiện tại độ chính xác có thể lên tới 0,025 mm.

3. Vật liệu
Các vật liệu khó gia công thường vết cắt ít bị vát (côn) hơn, độ vát này ảnh hưởng đến dung sai chi tiết. Có thể hạn chế bằng cách điều chỉnh tốc độ tốc độ cắt hoặc hơi nghiêng đầu cắt theo hướng vát của biên dạng khi cắt. Khi vật liệu tương đối dày, sẽ khó khăn để kiểm soát dòng nước ở phía dưới sau khi đi qua vật liệu, điều này sẽ để lại vết cắt không đều ở hai mép cắt. Vật liệu mỏng hơn 6mm có xu hướng cho mép vát ở vết cắt lớn nhất. Với những vật liệu dày thì độ chính xác khi cắt phụ thuộc nhiều vào hệ điều khiển.
WMT @ MES Lab. (biên dịch từ weterjet.org)

Đại học Stanford phát triển công nghệ điều khiển ánh sáng bằng từ trường

synthetic-magnetism-stanford-photonic-crystal.jpg
Các nhà khoa học đã có thể bẻ cong đường đi của chùm sáng giống như chùm electron

Ngày nay các thiết bị và dụng cụ quang học đã phổ biến tới tất cả mọi người, từ những vật đơn giản như chiếc kính mắt hay tới những chiếc máy ảnh, camera, thiết bị chiếu chụp y tế... Cho dù có cấu trúc phức tạp hay đơn giản, gọn nhẹ hay cồng kềnh, chi phí ít hay đắt tiền, những thiết bị đó đều có các đặc điểm chung cơ bản là hoạt động dựa theo nguyên lý truyền thẳngtính thuận nghịch của ánh sáng. Tuy nhiên trong tương lai có thể chúng ta sẽ được sớm chứng kiến các thế hệ thiết bị quang học hoàn toàn mới dựa trên tính truyền bất thuận nghịch của chùm photon hệt như chuyển động của electron (điện tử) trong từ trường. Công nghệ này vừa được các nhà khoa học tại Đại học Stanford danh tiếng phát triển thành công và theo họ mô tả nó sẽ mở ra khả năng sử dụng photon để thay thế electron trong hàng loạt vật liệu nano.

Photon-ánh sáng

Như chúng ta đã biết, bản chất của ánh sáng là sóng điện từ lan truyền trong không gian với bước sóng (tần số) nằm trong một dải nào đó, với ánh sáng khả kiến thì phổ bước sóng vào khoảng từ 0,4 micromet tới 0,75 micromet. Ngoài tính chất sóng, ánh sáng cũng có tính chất hạt, mà trong lý thuyết lượng tử người ta đặt cho các hạt này tên gọi photon. Kích thước của photon thế nào thì nó vẫn còn là một bí ẩn của vật lý, tuy nhiên, chúng ta biết rằng nó không có khối lượng (thực ra có thể nó có khối lượng cực kì nhỏ tới mức không ảnh hưởng lên những tính chất khác) và không mang điện.

Light-Refraction-Glass.gif
Sự khúc xạ ánh sáng ở mặt biên giữa hai môi trường

Về mặt quang học, trong môi trường trong suốt và đồng tính, ánh sáng truyền theo đường thẳng. Tại mặt giao nhau của hai môi trường không trong suốt có chiết xuất khác nhau, ánh sáng có thể bị đổi hướng do các hiệu ứng điện từ xuất hiện ở mặt biên và người ta gọi đó là hiện tượng khúc xạ ánh sáng. Do vậy khi đi qua các môi trường khác nhau, đường truyền của ánh sáng bị gấp khúc tại nhiều điểm. Tuy nhiên, cho dù ánh sáng truyền từ điểm A tới điểm B với đường đi phức tạp thế nào thì nó cũng có thể truyền theo chiều ngược lại từ B tới A theo chính con đường đó, hiện tượng này được gọi là nguyên lý thuận nghịch của sự truyền sáng và người ta sử dụng nó để ứng dụng trên nhiều thiết bị quang học.

Qúa trình chuyển động bất thuận nghịch của electron trong từ trường

Trước hết thế nào là một quá trình bất thuận nghịch? Quá trình bất thuận nghịch là thuận ngữ dùng để mô tả những gì xảy ra một chiều mà không thể diễn ra theo chiều ngược lại. Ví dụ bạn thả một quả trứng xuống nền nhà và nó vỡ chứ không có chuyện quả trứng đang vỡ tự lành lại rồi bay từ nền nhà trở lại tay bạn. Tiếp theo dưới đây bạn sẽ hiểu tại sao người ta nói chuyển động của electron trong từ trường là một quá trình bất thuận nghịch.

Ở phổ thông chúng ta biết rằng bất cứ hạt mang điện nào chuyển động trong từ trường nó sẽ chịu tác động bởi một lực mà người ta người ta gọi là lực Lorentz. Phương và chiều của lực này được xác định nhờ quy tắc bàn tay trái: bạn đặt lòng bàn tay hứng các đường cảm ứng từ, sao cho chiều từ cổ tay tới các ngón tay chỉ chiều chuyển động của hạt mang điện, khi ấy phương của ngón tay cái choãi ra 90 độ chỉ phương của lực Lorentz. Chiều của lực Lorentz sẽ phụ thuộc vào điện tích của hạt chuyển động. Nếu hạt mang điện dương, chiều của lực trùng với chiều của ngón tay cái, còn nếu hạt mang điện âm, lực sẽ có chiều ngược lại. Do tác động của lực Lorentz, hạt mang điện chuyển động trong từ trường đều sẽ có dạng hình xoắn ốc.

luctu_Lorentz_quydao_xoayoc.jpg
Chuyển động của hạt mang điện khi có mặt từ trường sẽ có dạng xoắn ốc

Tiếp theo chúng ta xem xét một trường hợp đặc biệt hơn khi phương chuyển động của electron vuông góc với phương của từ trường. Lúc này lực Lorentz chỉ tác động theo phương vuông góc với phương chuyển động của electron và không làm thay đổi tốc độ của hạt. Kết quả là nó bẻ cong đường đi của hạt mang điện. Vì thế chúng ta có được một electron chuyển động đều theo một quỹ đạo tròn với bán kính xác định phụ thuộc vào độ lớn của từ trường (điện tích của electron cố định là -1,6*10^(-19) coulumb). Bây giờ nếu cho electron bay vào cùng khu vực từ trường đã nêu với cùng phuơng nhưng theo chiều ngược lại, liệu nó có chuyển động trên cùng quỹ đạo tròn như trên và ngược chiều hay không? Nếu bạn tiếp tục áp dụng quy tắc bàn tay trái, bạn sẽ thấy rằng kết quả là không, electron sẽ chuyển động trên một quỹ đạo tròn đối xứng với quỹ đạo ở trên qua phương chuyển động thẳng trước nó lúc đi vào vùng từ trường. Như vậy, khi đổi chiều electron không thể đi theo chiều ngược lại trên đường tròn mà nó đã đi ban đầu. Đó là lý do tại sao người ta gọi quá trình đó là chuyển động bất thuận nghịch.

Đại học Stanford tạo ra chuyển động bất thuận nghịch của photon trong từ trường


synthetic-magnetism-stanford-photonic-crystal-2.jpg
Kết quả đo đạc bán kính của photon khi nó chui vào hệ tinh thể quang học

Khác với electron, photon không mang điện nên khó có thể hình dung ra từ trường tác động lên nó ra sao. Tuy nhiên, việc thay đổi phương truyền của photon ở mặt biên của hai môi trường trong suốt có thể là một gợi ý tốt cho việc liên quan giữa tác động của từ trường lên photon theo một cách nào đó. Với mục đích điều khiển đường đi của ánh sáng, các nhà khoa học tại Đại học Stanford đã "đục" các lỗ cực nhỏ trên tấm silicon để biến nó thành một vật liệu tinh thể quang học có khả năng giam cầm hoặc giải phóng photon. Hệ thống các lỗ trên tấm silicon sẽ tạo thành mạng lưới dày đặc những mạch điện. Bằng cách điều khiển chính xác dòng điện chạy qua các mạch này, các chuyên gia có thể tạo ra một hệ từ trường đặc biệt và sử dụng nó để tác động lực lên photon. Họ gọi từ trường tổng hợp do các mạch điện sinh ra là "từ trường hiệu dụng".

Do công bố không chỉ rõ chi tiết phương thức tương tác của từ trường với photon diễn ra như thế nào nên ở đây mình không thể giải thích cặn kẽ cho các bạn được. Các chuyên gia chỉ cho biết, kết quả tác động của lực từ lên photon giống hệt như với electron. Tức là photon sẽ chuyển động theo các quỹ đạo tròn với bán kính xác định. Nhóm nghiên cứu cho biết thêm, bằng cách điều khiển vận tốc của photon trước khi đi vào tinh thể quang học ở trên (với các môi trường có chiết suất lớn, người ta có thể điều khiển photon chuyển động chậm ở tốc độ vài mét/giây) họ có thể hiệu chỉnh bán kính quỹ đạo của nó theo ý muốn.

Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu tại Stanford

Việc các nhà khoa học thực hiện thành công thực nghiệm điều khiển chuyển động của photon giống như electron trong từ trường chứng tỏ việc truyền sáng có tính bất thuận nghịch chứ không phải hoàn toàn thuận nghịch như chúng ta biết. Điều đó có nghĩa là có sự khác biệt nhất định khi ánh sáng truyền theo một chiều nào đó và khi nó truyền theo chiều ngược lại trên cùng đường đi. Việc hiểu rõ phương thức tác động bất thuận nghịch như trên sẽ giúp chế tạo ra các thiết bị truyền sáng, thiết bị truyền tín hiệu mới như cáp quang thế hệ tiếp theo với khả năng mất mát thông tin tin và suy giảm tín hiệu ít, gần như không còn nhiễu do các hiệu ứng tán xạ ngược trên bề mặt cáp truyền. Do đó, chúng ta có thể trong đợi vào các hệ thống mạng với tốc độ nhanh hơn, băng thông cao hơn và ít bị nhiễu.

Thí nghiệm này cũng chỉ ra photon phải có một đặc trưng vật lý nào đó giống như điện tích trên electron (có thể người ta sẽ gọi nó là quang tích hay một tên gọi nào đó kiểu như vậy). Từ đó mở ra khả năng thay thế electron bằng các photon trong các loại vật liệu nano mới. Điều này sẽ giúp tăng tốc độ điều khiển, giảm kích thước các sản phẩm trong tương lai.

Nguồn: Stanford, Gizmag